Danh sách các Quan Đương Niên Hành Khiển từng năm

Trong các bài văn khấn cúng đầu năm mới (giao thừa trong nhà & ngoài sân) ta thấy các cụ có nhắc tới các vị hành binh, hành khiển và tên các vị này sẽ được thay đổi theo từng năm. VD vị quan năm Tý là Chu Vương, năm Sửu là Triệu Vương  v.v ...  Vậy 12 vị hành binh, hành khiển, phán quan trong từng năm là những ai? Nhiệm vụ của họ là gì? Sắm lễ cúng các vị này cần lưu ý những gì? ... Hãy cùng Tamlinh.org tìm hiểu. 

12 quan hanh khien hanh binh phan quan

12 vị hành khiển, hành binh, phán quan là ai?

Trong vũ trụ có sao Mộc (木星 Mộc tinh) mà phương Đông gọi là sao Thái Tuế (太歲), 12 năm quanh hết một vòng mặt trời. Hàng năm đi ngang qua một cung trên đường Hoàng đạo, ứng với 12 cung từ Tý đến Hợi. Khi sao Mộc đi vào cung Tý năm đó gọi là năm Tý, đến cung Sửu năm đó là năm Sửu …vào cung Hợi là năm Hợi. Vì vậy đó là sao năm hay sao Thái Tuế và được tôn là vị “Hành khiển thập nhị chi Thần” (行遣十二之神).

Người xưa, với quan niệm phong phú về thần linh đã không coi đơn giản đó là một ngôi sao mà thần linh hoá thành 12 vị thần hành khiển (quan văn), hành binh (quan võ) gọi là thập nhị Đại vương hành khiển. Dân gian cũng tin rằng đó là những người thay mặt Ngọc Hoàng – vị vua của thiên giới trông coi mọi việc trên thế gian, mỗi vị một năm theo chu kỳ của 12 con giáp. Bắt đầu là năm Tý, năm cuối cùng là năm Hợi, hết năm Hợi lại quay trở lại với vị Đại vương hành khiển của 12 năm trước.

Nhiệm vụ - Trách nhiệm của 12 vị Quan Đương Niên Hành Khiển là gì?

Các vị đại vương này còn gọi là đương niên chi thần, mỗi vị có trách nhiệm cai trị thế gian trong cả năm, xem xét mọi việc hay dở của từng người, từng gia đình, từng thôn xã cho đến từng quốc gia để định công luận tội, tâu lên Thượng đế. Thượng đế, căn cứ vào bản công tội đó để chỉ thị cho người mới xuống  cai trị biết để định công, tội.

Bên cạnh mười hai vị hành khiển là mười hai phán quan. Đại vương hành khiển lo việc thi hành những mệnh lệnh của Ngọc Hoàng còn phán quan thì lo việc ghi chép công, tội của mọi người, mọi gia đình, mọi thôn xã.

Trong các vị hành khiển, có vị nhân từ, có vị cương trực và cũng có vị khắc nghiệt.

  • Nếu năm đó gặp vị hành khiển nhân từ, cương trực, đức độ thì nhân dân no đủ, khang thái, ít thiên tai, dịch bệnh.
  • Ngược lại, năm nào đói kém nhiều, bệnh tật, tai ách, loạn lạc triền miên người ta tin rằng đó là hoạ do vị hành khiển năm đó giận dữ giáng xuống.

CÁC QUAN ĐƯƠNG NIÊN HÀNH KHIỂN TỪNG NĂM.

  • NĂM TÝ: QUAN CHU VƯƠNG hành khiển, Thiên ôn hành binh chi Thần, Lý Tào Phán quan.
  • NĂM SỬU: QUAN TRIỆU VƯƠNG hành khiển, Tam thập lục phương hành binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan.
  • NĂM DẦN: QUAN NGỤY VƯƠNG hành khiển, Mộc chi Thần, Tiêu tào Phán Quan.
  • NĂM MÃO: QUAN TRỊNH VƯƠNG hành khiển, Thạch tinh chi Thần, Liễu Tào Phán quan.
  • NĂM THÌN: QUAN SƠ VƯƠNG hành khiển, Hỏa tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan.
  • NĂM TỴ: QUAN NGÔ VƯƠNG hành khiển, Thiên hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan.
  • NĂM NGỌ: QUAN TẦN VƯƠNG hành khiển, Tiên Tào chi Thần. Nhân tào Phán quan.
  • NĂM MÙI: QUAN TỐNG VƯƠNG hành khiển, Ngũ đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan.
  • NĂM THÂN: QUAN TỀ VƯƠNG hành khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan.
  • NĂM DẬU: QUAN LỖ VƯƠNG hành khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan.
  • NĂM TUẤT: QUAN VIỆT VƯƠNG hành khiển, Thiết bá chi Thần, Thành Tào Phán quan.
  • NĂM HỢI: QUAN LƯU VƯƠNG hành khiển, Ngũ ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan.

CHÚ THÍCH: 12 vị Đại Vương hành khiển cai quản 12 năm, mỗi vị đều có một vị Phán quan giúp việc.

Cách nhớ tên các quan đương niên hành khiển từng năm 

Một cách khác cho dễ nhớ thì bạn thuộc lòng bài thơ chữ Hán dưới đây.

子周丑趙魏王寅
卯鄭楚辰＀巳吳君
午秦未送申齊主
酉魯戌粵亥劉王

Dịch:

TÍ CHU,SỬU TRIỆU, NGUỴ VƯƠNG DẦN
MÃO TRỊNH, SỞ THÌN, TỴ NGÔ QUÂN
NGỌ TẦN, MÙI TỐNG, THÂN TỀ CHÚA
DẬU LỖ, TUẤT VIỆT, HỢI LƯU VƯƠNG.

Cúng các quan đương niên hành khiển lúc giao thừa

Mỗi năm trong các bài văn khấn giao thừa khi dâng hương ngoài trời đều khấn danh vị của các vị quan hành khiển cùng các vị phán quan. Năm nào thì khấn danh vị cũng như phải sắm áo vải đúng màu với đương niên hành khiển năm ấy. Tên các vị hành khiển theo thập nhị địa chi, nhưng màu sắc bài vị, quần áo tuân theo phép ngũ hành:

  • Năm hành Kim (Canh, Tân) mầu vàng
  • Năm hành Mộc (Giáp, Ất) mầu trắng
  • Năm hành Thủy (Nhâm, Quý) mầu xanh
  • Năm hành Hỏa (Bính, Đinh) mầu đỏ
  • Năm hành Thổ (Mậu, Kỷ) mầu đen.

Tục xưa cúng Đại vương hành khiển là vào đầu năm mới, ngay phút giao thừa, sửa lễ tiễn năm cũ là tiễn cả vị đại vương năm cũ và đón vị thần năm mới. Hiện nay, trong thực tế tại địa phương Bình Dương, thần hành binh, hành khiển còn hiện diện trong nhiều lễ cúng bởi quan niệm tất cả các loại chiến tranh, dịch bệnh, gây chết người hàng loạt là do thần Hành Binh Hành khiến thiếu quân, chỉ đạo các vị thần có nhiệm vụ thu quân. Ngày xưa khi có chiến tranh hoặc dịch bệnh gây tai họa khủng khiếp, gây ấn tượng mạnh khiến con người hoảng sợ, hàng năm bày tục cúng ra mắt các vị thần Hành Binh Hành Khiến và Phán Quan tha thứ.

Lễ vật cúng các thần này là gạo muối, trầu cau, trà rượu, một con gà luộc và vài chén cháo....đặc biệt phải có giấy tiền vàng bạc và một bộ đồ thế. Theo quan niệm “nhất nhân thế nhị hình” thì mỗi thành viên trong gia đình phải nộp hai hình thế để các vị thần này điền vào sổ lính. Ngoài ra người ta còn đốt dâng cho các vị thần này hình ảnh doanh trại, ghe thuyền, xe cộ, vũ khí, chiêng trống... Khi cúng xong, người ta lấy hình một vị thần Hổ dán ngay cửa cái, ý muốn nhờ ngài phù hộ tất cả các thành viên trong gia đình và bẻ cặp giò gà đang cúng để đoán vận mạng cát hung. Ngay trong tục tống quái ngày nay người ta cũng vin vào lý do cấp quân cho thần Hành binh, Hành khiển mà làm một bè bằng chuối hay dán bằng giấy, khung bằng tre, trên có gắn hình nhân quân lính, gạo muối, gà luộc… mà thả trôi sông vừa để xua đuổi vận rủi, tai ương vừa cung cấp lính cho các thần.

Tổng hợp

Bình luận