04/06/2021 11:51 View: 1114

Lời hát văn thỉnh Chầu Mười Đồng Mỏ

Hát văn Chầu Mười Đồng Mỏ thường diễn ra tại đền Mỏ Ba Lạng Sơn trong những ngày đầu xuân và chính tiệc, lễ hội Chầu Mười hay khi hầu giá Chầu Mười. Các cung văn hát chầu văn phục vụ khách hành hương đi lễ. Vậy bản văn thỉnh Chầu Mười Đồng Mỏ như thế nào? Hãy cùng Tamlinh.org tìm hiểu

Van thinh chau muoi dong mo, hat van

Hát văn, chầu văn là gì? 

Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát hầu đồng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Phần lời của các bản chầu văn thường sử dụng các thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn, song thất lục bát, nhất bát song thất (hay song thất nhất bát), hát nói…với mục đích làm cho buổi lễ sống động, mời gọi các vị Tiên Thánh giáng trần.

Xem thêm: Chầu Mười Đồng Mỏ: Sự tích, đền thờ, văn khấn

Người hát chầu văn gọi là gì? 

Người trình bày các bản hát văn được gọi là “cung văn”. Cung văn ngồi một bên trong nghi lễ, hai bên là nhạc công tấu nhạc và ban hát phụ họa.

Người hát thường là các nghệ nhân lớn tuổi. Họ vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu kéo dài khoảng 4 – 8 giờ đồng hồ. Nhạc cụ thường gồm:

  • Đàn nguyệt
  • Trống ban (trống con)
  • Phách, cảnh, thanh la

Và một số các nhạc cụ khác như: sáo, trống cái, đàn thập lục, đàn nhị, kèn bầu, chuông, mõ, đàn bầu…

Hát văn Chầu Mười Đồng Mỏ - cung văn Nguyễn Thị Chảo

Hát văn Chầu Mười Đồng Mỏ - cung văn Hoài Thanh 

Hát văn Chầu Mười Đồng Mỏ - cung văn Xuân Hinh

Bản lời văn Chầu Mười

Ai lên Đồng Mỏ Chi Lăng

Nhớ người nữ kiệt cứu dân tiền triều

Nước non gặp vận hiểm nghèo

Chầu Mười Đồng Mỏ sớm chiều xông pha

Vốn người sinh quán Mỏ Ba

Cần lao nối dõi việc nhà đao cung

Gặp thời Thái Tổ Trung Hưng

Giúp vua dẹp giặc Liễu Thăng hàng đầu

Vua sai Chầu trấn các châu

Khắp vùng xứ Lạng địa đầu giang san

Giặc Minh quen thói bạo tàn

Mưu đồ xâm chiếm biên cương địa đầu

Lệnh truyền hiệu triệu các châu

Sơn trang tám tướng nghe chầu ra binh

Mười đông chiến lược tung hoành

Dẹp tan giặc dữ triều đình phong công

Rước Chầu trở lại sơn trung

Giúp dân lập ấp lên vùng Mỏ Ba

Đức tài đã dậy gần xa

Bản mường cao lũng trẻ già đội ơn

Cuối thu mạn hạn về tiên

Nhân dân kỉ niệm lập Đền Mỏ Ba

Người gần cho chí người xa

Rủ nhau trảy hội mỏ ba sớm chiều

Đường lên khuất khúc cheo leo

Chênh vênh núi đá tai mèo nhấp nhô

Mỏ Ba phong thủy họa đồ

Suối trong uốn lượn đền thờ trang nghiêm

Long xà hổ phục chim muông

Vượn dâng trái chín ngát hương hồng đào

Nghe chim gõ mõ sớm chiều

Phượng hoàng tung cánh mĩ miều họa ca

Canh ba giờ tí hiện ra

Áo vàng phấp phới khăn hoa dịu dàng

Lưng đeo kiếm bạc cung vàng

Cưỡi trên mình ngựa hiên ngang oai hùng

Đêm thanh bẻ lái giữa dòng

Lạng Giang ,Bản Thí ,Kì Cùng Lạng Sơn

Dừng thuyền bái yết chùa tiên

Thoát thôi Chầu trở về miền Tam Thanh

Dạo chơi Bắc Địa Long Thành

Sông Hương , núi Ngự như tranh họa đồ

Tháp chùa Thiên Mụ nhấp nhô

Sài Gòn , Gia Định chơi chùa Vĩnh Nghiêm

Bạch Đằng bến Nghé Thủ Thiêm

Chơi thôi chầu lại về miền Cốc Giang

Lăng Ông cổ tích danh lam

Khi chơi Đà Lạt lúc sang Vũng Tàu

Khắp hòa Tam thập lục châu

Kon Tum Đắc Lắc một bầu sơn trung

Rừng già Chầu đã từng sang

Rừng Buôn Mê Thuột tiên nàng đón đưa

Chôm chôm soài cát rừng dừa

Trăm hoa ngàn quả tiễn đưa chân người

Bắc Nam trung một bầu trời

Dâng hương khấn nguyện Chầu Mười giáng lâm

Chữ rằng sở nguyện tòng tâm

Tấm lòng đệ tử nhất tâm một đời

Hôm nay văn hát mấy lời

Vun trồng công đức ngàn năm vững bền